Thursday, October 8, 2026

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm

 

Phải vâng lời Thiên Chúa
hơn vâng lời người phàm

 


TIN MỪNG: Mt 22:15-21

(Chúa nhật 29 Thường Niên, 18/10/2026)

Nộp thuế cho Xêda

(15) Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. (16) Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê, đến nói với Đức Giêsu rằng: «Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. (17) Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?» (18) Nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: «Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! (19) Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!» Họ liền đưa cho Người một quan tiền. (20) Người hỏi họ: «Hình và danh hiệu này là của ai đây?» (21) Họ đáp: «Của Xêda». Bấy giờ, Người bảo họ: «Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa». (22) Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.

 

CHIA SẺ

1. Tình trạng hai «bản tịch» của Đức Giêsu

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy sự xung đột giữa hai «bản tịch» của Đức Giêsu cũng như của mọi Kitô hữu có quê hương dân tộc, nghĩa là vừa là tín đồ của một tôn giáo, tức «giáo tịch», vừa là người dân của một đất nước, tức «quốc tịch». Ngài cũng như chúng ta, vừa phải yêu mến Thiên Chúa và có những bổn phận tôn giáo (như thờ phượng Thiên Chúa, phục vụ Giáo Hội, hành xử theo lương tâm…), vừa phải yêu quê hương đồng bào và có nghĩa vụ đối với đất nước của mình (như tôn trọng pháp luật, đóng thuế, quân dịch…). Hai thứ trách nhiệm này thường phù hợp với nhau, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp chúng xung đột nhau: trung thành với tôn giáo thì có vẻ như phản bội đất nước, và ngược lại.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, người Pharisêu và phe đảng Hêrôđê hợp nhau đặt bẫy Đức Giêsu. Người Pharisêu là phe chủ trương trung thành với Do Thái giáo và đất nước Do Thái, vì thế, họ âm thầm chống lại người Rôma đang cai trị đất nước họ. Còn phe đảng Hêrốt là người của Hêrôđê Antipa – tiểu vương miền Galilê – chủ trương ủng hộ chính sách đô hộ của Rôma. Vì thế, hai phe này thường chống đối nhau kịch liệt: người Pharisêu coi phe Hêrôđê là phản Thiên Chúa và phản quốc; còn phe Hêrôđê là tay sai của đế quốc, tìm cách giết chết từ trong trứng nước những mầm mống chống lại đế quốc trong dân Do Thái.

Điều rất lạ là trong bài Tin Mừng này hai phe chống đối nhau ấy lại hợp sức với nhau hãm hại Đức Giêsu, bằng cách đặt Ngài vào một trường hợp thật khó xử là sự xung đột giữa hai «bản tịch» ấy. Họ chất vấn Ngài: «Có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?» Trả lời thế nào Ngài cũng đều bị kết án. Nếu nói «được phép», Ngài sẽ bị người Pharisêu lên án là ủng hộ người Rô-ma là kẻ thù của dân tộc, đồng thời chống lại Thiên Chúa mà tín đồ Do Thái giáo coi là vị Vua duy nhất. Còn nếu bảo «không được» thì người của Hêrôđê sẽ bắt Ngài nộp cho chính quyền Rôma vì tội tuyên truyền phản động, chống lại chính sách của đế quốc. Nhưng Đức Giêsu đã trả lời họ một cách thật tài tình, khiến cho cả hai phe không bắt bẻ Ngài được, đồng thời cho chúng ta một nguyên tắc để hành xử khi mang hai «bản tịch» trên. Đó là «của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa» (Mt 22:21).

 

2. Thần quyền hợp với thế quyền bách hại Đức Giêsu

Người mang hai «bản tịch» như thế bị chi phối rất nhiều bởi hai lực lượng: thần quyền bên tôn giáo và thế quyền bên đất nước, xã hội. Lý tưởng nhất là hai lực lượng này cùng quan tâm đến những thiện ích chung của mọi người để cùng cộng tác với nhau, mưu lợi ích và hạnh phúc cho toàn dân. Đó là điều đại hạnh phúc cho mọi người dân, mọi tín đồ. Nhưng tại nhiều quốc gia, thần quyền và thế quyền chống đối nhau, nhất là khi hai bên có những quan điểm căn bản ngược lại nhau. Chẳng hạn khi thế quyền chủ trương vô tôn giáo, hoặc nghiêng hẳn về một tôn giáo nào đó, coi tôn giáo đó là quốc giáo, khiến tín đồ các tôn giáo khác lâm vào thế bị bạc đãi. Lúc đó, những người dân hai «bản tịch» bị ngược đãi ấy bị buộc phải chọn một bên và bỏ một bên một cách thật đau lòng. Đau lòng là vì họ chẳng muốn bỏ một bên nào, bên nào cũng hết sức thân thiết với họ. Họ lâm vào thế kẹt: hễ trung thành với tôn giáo thì bị nhà nước kết án, mà trung thành với nhà nước thì bị tôn giáo kết án.

Nhưng cũng có những trường hợp thần quyền và thế quyền hợp với nhau áp bức và bóc lột người dân vốn thấp cổ bé miệng, như trường hợp bài Tin Mừng hôm nay. Lúc đó thần quyền có thể trở thành công cụ của thế quyền hoặc ngược lại: hai bên lợi dụng thế của nhau để áp bức người dân, để cùng có lợi. Hai bên có thể thỏa hiệp với nhau, bênh vực hay tương nhượng lẫn nhau, hoặc bên này im lặng để mặc bên kia tự do hành động sai trái, bất chấp quyền lợi chung của đất nước, tôn giáo, hay người dân.

Thần quyền cũng như thế quyền đều được lập nên nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của dân chúng và của các tín đồ. Thần quyền còn nhằm phụng sự Thiên Chúa. Nhưng lịch sử các quốc gia và các tôn giáo, cũng như cuộc đời của Đức Giêsu cho thấy: không phải lúc nào thần quyền và thế quyền cũng đi đúng mục đích của mình. Nhiều trường hợp họ theo đuổi những mục đích cá nhân hay tập thể nhỏ của họ. Thiết tưởng các Kitô hữu chân chính, tức những môn đệ đích thực của Đức Giêsu, cho dù hoạt động trong thần quyền hay thế quyền, cũng luôn luôn đặt quyền lợi của Thiên Chúa, của đất nước, của tôn giáo và của dân chúng lên trên hết. Họ sẵn sàng hy sinh bản thân, quyền lợi cá nhân cũng như tập thể nhỏ của họ cho mục đích cao cả ấy. Nếu không thì càng giữ chức vụ cao, họ càng trở thành công cụ của Satan, của sự ác, và đương nhiên chức vụ cao ấy sẽ là nhân duyên tạo nên sự trừng phạt của Thiên Chúa dành cho họ.

 

3. Áp dụng nguyên tắc của Đức Giêsu

Là tín đồ của một tôn giáo trong một đất nước, chúng ta có hai «bản tịch» với hai loại nghĩa vụ: một là đối với Thiên Chúa, Giáo Hội, đời sống tâm linh, lương tâm con người; hai là đối với quốc gia, xã hội. Người Kitô hữu cần cố gắng thi hành trọn vẹn chừng nào có thể hai loại nghĩa vụ ấy. Việc này sẽ dễ dàng nếu hai thế lực đạo và đời cùng đồng quan điểm và cùng hợp lực với nhau vì ích lợi chung. Lúc đó, cả hai thế lực đều là những công cụ phục vụ điều thiện, vì thế, tuân theo mệnh lệnh của những thế lực ấy cũng chính là vâng lời Thiên Chúa.

Thánh Phêrô đưa ra nguyên tắc: «Hãy tôn trọng mọi người, hãy yêu thương anh em, hãy kính sợ Thiên Chúa, hãy tôn trọng nhà vua» (1Pr 2:16). Đối với nhà nước phục vụ ích lợi chung như thế, thánh Phaolô nói: «Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt» (Rm 13:1-2). Đó chính là áp dụng lời của Đức Giêsu: «Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa», nghĩa là nghĩa vụ thuộc bên nào thì hãy chu toàn nghĩa vụ ở bên nấy.

Tuy nhiên, lý tưởng trên nhiều khi không xảy ra, lúc đó người dân hai «bản tịch» sẽ gặp nhiều khó khăn. Là người Kitô hữu, chúng ta cần phải đặt thánh ý Thiên Chúa và lương tâm con người lên trên hết. Và kế đó là phải phân biệt giữa ý muốn của Thiên Chúa và ý muốn của hai thế lực đạo, đời ấy. Chủ trương và động lực của hai thế lực này không phải luôn luôn phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa và lương tâm con người. Hai thế lực ấy vốn là bề trên, là bậc cha mẹ mà bình thường ta phải tuân phục. Đức vâng phục Kitô giáo đòi buộc chúng ta phải tuyệt đối vâng lời bề trên bao lâu chúng ta biết mệnh lệnh của bề trên phản ảnh thánh ý của Thiên Chúa. Chừng nào chúng ta thấy mệnh lệnh của bề trên không còn phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa, thì dù bề trên ấy là thần quyền hay thế quyền, chúng ta không phải tuân phục. Vì «phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm» (Cv 5:29). Nếu ta biết ý của bề trên phản lại ý muốn của Thiên Chúa mà vẫn nhắm mắt vâng lời là ta đã phạm tội đồng lõa với họ. Hãy xem gương dân Do Thái, chính vì hùa theo giới lãnh đạo tôn giáo giết Đức Giêsu và các ngôn sứ, mà hậu quả là nước Do Thái đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới gần 20 thế kỷ.

Điều quan trọng là chúng ta phải thực hành thánh ý của Thiên Chúa được thể hiện qua lương tâm ngay thẳng và được giáo dục của mình, bất chấp làm như thế có ý nghĩa chính trị hay thương mại hay gì gì khác nữa. Chúng ta không chủ trương làm chính trị hay thương mại, mà chỉ chủ trương làm theo thánh Thiên Chúa hay lương tâm. Không thể vì một bổn phận nào đó mang ý nghĩa chính trị hay thương mại mà chúng ta có quyền miễn làm theo thánh ý Thiên Chúa hay theo tiếng nói của lương tâm. Trước những xung đột như thế, hãy tự hỏi: ta phải làm theo ý Thiên Chúa hay theo ý muốn của con người?

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con đang sống trong một thế gian đầy phức tạp, việc sống theo ý muốn của Cha không phải là đơn giản, vì rất nhiều khi các nguyên tắc chồng chéo và mâu thuẫn nhau. Chính vì thế, chúng con phải biết nguyên tắc nào là cao nhất. Nguyên tắc cao nhất mà Kinh Thánh mặc khải cho, chính là: «Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm» (Cv 5:29), hay «Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời mà thôi» (Mt 7:21). Xin cho con biết tuân thủ nguyên tắc ấy qua lương tri và lương tâm của con. Amen.

Nguyễn Chính Kết

Lệnh của con người và thánh ý Thiên Chúa

 

Lệnh của con người
và thánh ý Thiên Chúa

 


TIN MỪNG: Mt 22:15-21

(Chúa nhật 29 Thường Niên, 18/10/2026)

Nộp thuế cho Xêda

(15) Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. (16) Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê, đến nói với Đức Giêsu rằng: «Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. (17) Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?» (18) Nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: «Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! (19) Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!» Họ liền đưa cho Người một quan tiền. (20) Người hỏi họ: «Hình và danh hiệu này là của ai đây?» (21) Họ đáp: «Của Xêda». Bấy giờ, Người bảo họ: «Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa». (22) Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.

 

CHIA SẺ

1. Bối cảnh bài Tin Mừng

Nước Do Thái thời Đức Giêsu là một nước bị đế quốc Rôma đô hộ. Dân Do Thái phải đóng thuế cho đế quốc. Về vấn đề này, trong nước có hai khuynh hướng chính trị đối lập, thậm chí thù nghịch nhau:

– Phe Hêrốt (quốc doanh) là phe thân chính quyền, chủ trương ủng hộ đế quốc để đế quốc bảo vệ ngai vàng và quyền cai trị của mình. Phe này chủ trương bắt dân đóng thuế cho đế quốc. Trong tôn giáo, phái Sađốc (các tư tế thường thuộc phái này) cũng theo lập trường chính trị này.

– Phe dân chúng (yêu nước) là phe đứng về phía nhân dân và tôn giáo. Phe này không muốn tùng phục đế quốc xâm lược, và thường tìm cơ hội để nổi dậy dành lại độc lập cho đất nước. Vì thế, họ chủ trương chống lại việc nộp thuế. Trong xã hội có phái Zêlốt, và trong tôn giáo có phái Pharisêu đứng về phe này.

Người dân nào theo phe Hêrốt thì bị dân chúng oán ghét, tẩy chay. Còn ai đứng về phe dân chúng thì bị chính quyền để ý, gây khó dễ. Do đó, chủ trương nộp thuế hay không là một vấn đề rất nhạy cảm đối với dân chúng. Vì thế, để âm mưu gài bẫy Đức Giêsu hầu hại Ngài, những người Pharisêu đã đặt vấn đề với Ngài, buộc Ngài phải tuyên bố lập trường về vấn đề nhạy cảm này. Đức Giêsu biết âm mưu thâm độc của họ:

(1) Nếu Ngài trả lời nên nộp thuế thì Ngài sẽ bị dân chúng tẩy chay, họ sẽ không thèm nghe giáo huấn của Ngài nữa;

(2) Ngược lại, nếu Ngài trả lời không nên nộp thuế, thì phe Hêrốt sẽ có cớ để tố cáo Ngài chống lại pháp luật;

(3) Nếu Ngài không trả lời, thì Ngài chứng tỏ mình không có lập trường, là người dốt nát, Ngài sẽ bị mất uy tín của một đạo sư.

Cách nào thì cũng đều gây rắc rối cho Ngài. Nhưng Ngài đã trả lời một cách rất khôn ngoan, hợp lý, vừa thoát khỏi bẫy của những kẻ muốn hại Ngài, vừa đưa ra được một nguyên tắc soi sáng cho con người, nhất là cho các Kitô hữu phải sống trong một tình thế xã hội phức tạp tương tự như xã hội thời Ngài. Thật vậy, con người trong một xã hội luôn luôn bị giằng co bởi uy quyền của thế lực trần tục và đòi hỏi của lương tâm, của thánh ý Thiên Chúa, v.v… Thật khó xử.

Sau khi bắt họ xác định hình trên đồng tiền là của ai, và họ trả lời là của Xêda thì Ngài trả lời: «Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa» (Mt 22:21). Với câu trả lời này, âm mưu của họ thất bại.

 

2. Hai nguyên tắc đúng nhưng đôi khi đối nghịch nhau

Trong các tập thể, ta thường phải dưới quyền và tuân phục người lãnh đạo tập thể ấy. Trong gia đình có cha mẹ, trong xã hội có chính quyền các cấp, trong Giáo Hội có giáo quyền. Tất cả những người lãnh đạo ấy đều là con người, họ có thể ra lệnh đúng với thánh ý Thiên Chúa, mà cũng có thể ngược lại với thánh ý Ngài. Nếu lệnh của họ phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, thì không có vấn đề, người Kitô hữu phải vâng phục họ. Không vâng phục họ chính là không vâng phục Thiên Chúa. Nhưng nếu lệnh của họ đi ngược lại thánh ý Ngài như đã từng xảy ra biết bao lần trong lịch sử, thì ta sẽ lâm vào tình trạng xung đột nguyên tắc hay xung đột bổn phận, rất khó xử. Có hai nguyên tắc đôi khi xung đột nhau:

– Một đằng phải vâng phục người lãnh đạo, vì họ là đại diện cho Thiên Chúa, và vì quyền họ nắm trong tay đến từ Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết: «Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Cần thiết phải phục tùng họ, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm» (Rm 13:1-2.5; x.1Pr 2:13-14.17b).

– Một đằng «phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm» (Cv 5:29). Thánh Phêrô đã nói thế để phản đối giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái khi họ cấm ông không được rao giảng Tin Mừng.

 

3. Vấn đề đặt ra

Một tập thể, một đất nước, một giáo hội… luôn luôn phải có người lãnh đạo, nếu không thì sẽ lâm vào tình trạng «vô chính phủ», rất hỗn loạn và thật tai hại. Người xưa nói: «Nhất nhật vô vương đảo huyền thiên hạ» (một ngày không vua, thiên hạ đại loạn), «Nước một ngày không thể không vua» (Đại Việt sử thi). Nếu có người lãnh đạo mà người dưới không tuân phục, thì cũng mất trật tự, không ổn định, tập thể không thể tồn tại hay phát triển được. Người lãnh đạo thường tài đức hơn người, nên lệnh truyền của họ thường phản ảnh đúng thánh ý Thiên Chúa. Vì thế, trên nguyên tắc, Kitô giáo chủ trương con người phải vâng phục bề trên của mình. Chủ trương này thật hợp tình hợp lý.

Nhưng đã là con người thì đều có tự do đối với lương tâm, đồng thời cũng rất yếu đuối và hay thay đổi. Trong mỗi thời điểm, họ có thể làm theo lương tâm, theo thánh ý Thiên Chúa, mà cũng có thể không làm theo lương tâm mà làm theo lợi ích riêng tư của họ. Do đó có rất nhiều trường hợp lệnh trên không phù hợp với lẽ phải, đi ngược lại thánh ý Thiên Chúa, bất lợi cho lợi ích chung. Rất nhiều người lãnh đạo khi được đưa lên nắm quyền thì là người rất tài đức, xứng đáng được mọi người tuân phục. Nhưng khi nắm quyền hành trong tay một thời gian, họ liền bị biến chất, vì quyền hành có khả năng tha hóa con người. Người Pháp có câu: «Le pouvoir corrompt par nature» (quyền hành tự bản chất làm hư hỏng con người).

Trường hợp Sa-un trong Cựu ước là một điển hình (1Sm 9:15-17). Khi Sa-un được Thiên Chúa chọn làm vua Do Thái thì ông là người xứng đáng. Nhưng sau đó ông bị biến chất nên đã bị Thiên Chúa truất phế để lập Đavít lên thay thế (1Sm 28:16-18). Thật vậy, biết bao người lãnh đạo ban đầu giống như một minh quân, nhưng cầm quyền lâu năm lại biến thành bạo chúa. Chính vì thế trong các xã hội dân chủ, người lãnh đạo tập thể luôn luôn có một nhiệm kỳ nhất định. Người lãnh đạo nào vẫn giữ được tài đức thì có thể được tái nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa. Không ai được giữ chức lãnh đạo vô thời hạn cả. Đó là một nguyên tắc xã hội thật sáng suốt và khôn ngoan, phù hợp với tình trạng dễ thay đổi của con người. Những tập thể chủ trương ‘ai lãnh đạo là lãnh đạo suốt đời’ thì tập thể ấy thường bị thoái hóa theo thời gian.

Vậy, trong một tập thể, như gia đình, cộng đoàn, xã hội hay giáo hội, ta phải theo nguyên tắc nào? phải vâng phục ai? nhất là khi lệnh của người lãnh đạo không phù hợp với lẽ phải, với lương tâm, với thánh ý Chúa?

 

4. «Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa»

Qua câu nói của Đức Giêsu, ta thấy cần phải phân biệt những gì thuộc lãnh vực trần tục, và những gì thuộc lãnh vực lương tâm. Hai lãnh vực này có thể phân biệt rõ ràng, điều đó không có nghĩa là chúng hoàn toàn độc lập với nhau, hay không có sự bao trùm lên nhau. Những gì hoàn toàn thuộc lãnh vực trần tục, không liên quan đến lương tâm, thì ta phải hoàn toàn tuân phục người lãnh đạo. Chẳng hạn nhà nước buộc người dân đến tuổi trưởng thành phải làm căn cước, hay khi kinh doanh, bán nhà, bán xe phải đóng thuế, v.v… hoặc khi Giáo Hội buộc các tín hữu muốn kết hôn phải trình sổ rửa tội, phải rao ở nhà thờ, v.v… thì ta phải tuân phục. Nhưng trong những việc liên quan đến lương tâm, thì ta phải làm theo lương tri và lương tâm đúng đắn của mình. Không thể lấy lý do luật nhà nước hay luật Giáo Hội để làm ngược lại ý muốn của Thiên Chúa được phản ảnh qua lương tri và lương tâm mình. Chính Đức Giêsu đã bất chấp luật sabát của Môsê – tức luật tôn giáo – để làm theo đòi hỏi của tình yêu đại đồng (x. Mt 12:1-8; 12:9-14; Lc 13:10-17; 14:1-6; Ga 5:1-18; 9:1-41). Phêrô đã bất chấp lệnh cấm của giới lãnh đạo tôn giáo để làm theo đòi hỏi của Thiên Chúa là rao giảng Tin Mừng (x. Cv 5:27-33). Các thánh tử đạo trên thế giới đã trung thành với Thiên Chúa bất chấp lệnh cấm đạo của chính quyền.

Mục đích của đức vâng phục Kitô giáo là để thực hiện thánh ý Thiên Chúa. Khi nào sự vâng phục không phải là thực hiện thánh ý Thiên Chúa thì không còn là nhân đức nữa. Nếu vâng lời bề trên để thực hiện một tội ác thì chẳng những không công phúc gì, mà còn mang tội đồng lõa nữa.

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, sống đạo của Cha trong xã hội con người thật khó! Vì con người có luật của con người, và Thiên Chúa có luật của Thiên Chúa, hai luật này con đều phải tôn trọng, nhưng đôi khi lại trái ngược nhau. Lúc đó con biết làm theo luật nào? Nhiều khi con đã nhân danh luật của con người, của tôn giáo, để khỏi phải làm theo đòi hỏi của lương tâm, của tình yêu. Làm như thế có đúng không? Có đẹp lòng Cha không? Xin hãy cho con đủ tình yêu và can đảm để sống đúng ý Cha.

Nguyễn Chính Kết


Sự công chính là đồng phục phải có để vào Nước Trời

 

Sự công chính
là đồng phục phải có
để vào Nước Trời

 


 TIN MỪNG: Mt 22:1-14

(Chúa nhật 28 Thường Niên, 11/10/2026)

Dụ ngôn tiệc cưới

(1) Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: (2) «Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. (3) Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. (4) Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: «Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!» (5) Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn, (6) còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết. (7) Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. (8) Rồi nhà vua bảo đầy tớ: «Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. (9) Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới». (10) Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

 (11) «Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, (12) mới hỏi người ấy: «Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?» Người ấy câm miệng không nói được gì. (13) Nhà vua liền bảo những người phục dịch: «Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! (14) Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít».

 

CHIA SẺ

1. Hai chủ ý của dụ ngôn tiệc cưới

Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay có hai chủ ý:

– Chủ ý thứ nhất tương tự như dụ ngôn những tá điền sát nhân Chúa Nhật tuần trước: ơn cứu độ hay nước Trời ưu tiên dành cho người Do Thái rồi mới tới dân ngoại, nhưng người Do Thái đã tỏ ra hờ hững hay bất xứng với sự ưu tiên ấy. Vì thế, sự ưu tiên ấy đã được trao cho các dân tộc khác.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, 1. Đức vua ám chỉ Thiên Chúa; 2. Tiệc cưới ® Nước Trời; 3. Các đầy tớ đi mời dự tiệc ® Các ngôn sứ, trong đó có Đức Giêsu; 4. Các quan khách ưu tiên được mời mà không thèm đến ® Dân Do Thái; 5. Những người ở ngoài đường được mời dự tiệc ® Dân ngoại, các dân tộc khác. Chủ ý này đã được khai triển trong bài Chia sẻ Chúa Nhật tuần trước (27 Thường Niên), nên bài này không bàn tới nữa.

– Chủ ý thứ hai là: để vào Nước Trời, cần phải có một nỗ lực cá nhân để trở nên xứng đáng với Nước Trời, tức phải trở nên người công chính. Trong đó, y phục lễ cưới tượng trưng cho sự công chính, hay sự quang minh chính đại mà mọi người Kitô hữu cần phải có.

 

2. Giải thích dụ ngôn

Đây là tiệc cưới mà nhà vua làm cho hoàng tử, nên chắc chắn được tổ chức rất sang trọng và trang nghiêm. Những người được nhà vua ưu tiên mời đã không đến, mặc dù đã được ngài khẩn khoản mời tới hai lần. Chẳng những họ không đến, mà còn có những người sỉ nhục và giết chết những đầy tớ mà nhà vua sai đi mời nữa. Họ đã phạm tội khi quân một cách nghiêm trọng. Những người này ám chỉ dân Do Thái nói chung, đặc biệt những thành phần ưu tú trong Do Thái giáo (hàng tư tế, lêvi, rápbi, kinh sư, luật sĩ…). Họ đã được các ngôn sứ và Đức Giêsu ưu tiên rao giảng Nước Trời cho họ, nhưng chẳng những họ không thèm nghe để đón nhận Nước Trời, mà còn giết các ngôn sứ và cả Đức Giêsu nữa. Vì thế, để trừng phạt, dân Do Thái đã bị đế quốc Rô-ma xóa tên trên bản đồ vào năm 70 sau công nguyên.

Những người ở ngoài đường, đáng lẽ ở ngoài danh sách được mời dự tiệc, nay vì các quan khách ưu tiên từ chối, nên họ được mời thay thế. Vì đây là tiệc cưới của nhà vua, nên theo phép lịch sự, những người được mời đều có bổn phận phải về nhà mặc quần áo cho tề chỉnh để đi dự tiệc. Vả lại, tại những tiệc cưới sang trọng như vậy, thì theo phong tục Do Thái, chủ tiệc cũng sẵn sàng cung cấp những lễ phục phù hợp cho các khách dự tiệc. Vì thế, những ai không mặc lễ phục đám cưới đều phạm tội khi quân vì đã xúc phạm đến nhà vua, và đáng chịu hình phạt.

 

3. Áp dụng dụ ngôn cho người Kitô hữu

Chúng ta không là người Do Thái, mà là người thuộc những dân tộc khác vốn bị người Do Thái coi là dân ngoại. Vì thế, trong dụ ngôn này, chúng ta thuộc thành phần những người ở ngoài đường được mời vào dự tiệc, tức được Thiên Chúa mời gọi tham dự mầu nhiệm Nước Trời. Chúng ta đã đáp lại lời mời gọi ấy qua bí tích rửa tội, vì thế, chúng ta thuộc về Giáo Hội của Đức Giêsu, là dấu chỉ của Nước Trời. Chúng ta đang ở giai đoạn «đã bước vào bàn tiệc cưới nhưng chưa bắt đầu dự tiệc». Trước khi bữa tiệc bắt đầu, nhà vua còn phải vào phòng tiệc và quan sát khách dự tiệc: ai không có y phục lễ cưới thì bị loại ra ngoài. Vì thế, muốn tham dự tiệc cưới, vào bàn tiệc chưa đủ, mà còn phải bận y phục cho thích hợp. Y phục đó tượng trưng sự công chính. Nếu không công chính, chắc chắn ta không phải là đối tượng của Nước Trời. Điều này cho thấy sự sai lầm của những người quan niệm rằng: chỉ cần là người Kitô hữu, hay chỉ cần được rửa tội là đã đủ để vào Nước Trời, mà không cần phải cố gắng sống cho xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu.

Khi chọn y phục lễ cưới để ám chỉ sự công chính, rất có thể Đức Giêsu đã dựa vào những câu Kinh Thánh như: «Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang» (Is 61:10; xem thêm Da 3:3-5); Về sau sách Khải Huyền cũng dùng hình ảnh áo cưới để chỉ sự công chính, trong sạch: «Tại Xác-đê, ngươi có một ít người đã không làm nhơ bẩn áo mình; họ sẽ mặc áo trắng cùng đi với Ta, vì họ xứng đáng. Như thế, ai thắng sẽ được mặc áo trắng; Ta sẽ không xoá tên người ấy khỏi Sổ Trường Sinh; Ta sẽ nhận người ấy trước mặt Cha Ta và trước mặt các thiên thần của Người» (Kh 3:4-5)

 

4. Sự công chính là gì?

Để hiểu về sự công chính, ta nên theo chỉ dẫn của Kinh Thánh, là cở sở đáng tin cậy nhất, hơn là theo quan niệm, sự hướng dẫn hay truyền thống của người đời.

Đức Giêsu đã cho ta 3 yếu tố căn bản của lề luật, tức 3 yếu tố căn bản của sự công chính: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự chân thật» (Mt 23:23).

– Công lý hay sự công bằng: là sự tôn trọng hay đòi hỏi những quyền lợi tinh thần hay vật chất mà cá nhân (hay tập thể) có quyền đòi hỏi cá nhân (hay tập thể) khác phải trả hay phải tôn trọng. Chẳng hạn đã là người được sinh ra trong xã hội ngày nay thì đều có quyền tự do về thân thể, về tư hữu, về ngôn luận, v.v… mà mọi người khác kể cả chính quyền đều phải tôn trọng. Ai không tôn trọng là có lỗi, là sai trái, là vi phạm công lý hay công bằng. Công lý không chỉ bao hàm việc mình phải tôn trọng công bằng đối với người khác, mà còn bao hàm việc mình phải đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền lợi của của tha nhân và của tập thể. Im lặng để mặc kẻ ác vi phạm công lý một cách trầm trọng đối với tha nhân khi chính mình có thể can thiệp, cũng là không tôn trọng công lý. Công lý hay công bằng là nền tảng của tình thương. Tình thương hay lòng nhân ái không xây dựng trên nền tảng công lý, thì đó là tình thương giả tạo. Không ai có thể tự hào mình thương yêu người khác khi chính mình đang cố tình vi phạm sự công bằng đối với người ấy.

– Tình thương: Công chính hay thánh thiện Kitô giáo theo nghĩa chính xác nhất của danh từ là trở nên hoàn hảo giống Thiên Chúa. Mà yếu tính của Thiên Chúa là tình yêu: «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4:8.16). Vì thế, cốt yếu của sự công chính hay thánh thiện chính là tình yêu. Không có tình yêu, thì dù có giữ luật hoàn chỉnh đến đâu cũng không phải là công chính hay thánh thiện: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13:3). Tình yêu là nhân đức cao trọng hơn cả (x. 1Cr 13:13). Có thể nói, người có tình yêu đích thực là người công chính hay thánh thiện. Càng yêu thương nhiều thì càng công chính hay thánh thiện. Tình yêu chính là nền tảng của công chính. Nhưng cần nhớ: nền tảng của tình yêu lại chính là công lý hay sự công bằng. Không thể có tình yêu đích thực khi không tôn trọng công lý hay công bằng.

– Sự chân thật: là luôn luôn thành thật, không dối trá, gian xảo, không có ý lừa dối hay lường gạt người khác. Đây cũng là một đức tính căn bản của sự công chính. Một người có tính không thành thật không thể là một người công chính được, vì điều gì gian dối đều xuất phát từ sự ác, đi ngược lại với công chính. Đức Giêsu nói: «Hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5:37).

Ngoài những đức tính mà Đức Giêsu đề ra như nền tảng của công chính, còn một số đức tính khác được đề cập đến trong Thánh Kinh như:

– Đức Tin: «Dân ngoại (…) được nên công chính là nhờ đức tin» (Rm 9:30; x. 1:17; 5:1; 9:32; 10.6; Gl 3:11…).

– Đức khiêm nhường: Trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18:9-14), người thu thuế mặc dù tội lỗi nhưng có lòng khiêm nhường nhìn nhận mình tội lỗi, nên Đức Giêsu tuyên bố ông là người công chính: «Tôi nói cho các ông biết: người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người Pharisêu thì không» (Lc 14:18).

– Tính quên mình, vị tha, xả kỷ: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23).

Vậy, để vào Nước Trời, ngoài việc chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội, người Kitô hữu cần sống công chính, quang minh chính đại, xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu, với phẩm giá cao quí của «con cái Thiên Chúa». Tình thương chính là điều căn bản nhất của sự công chính.

 

CẦu nguyỆn

Lạy Cha, con đã đáp lại lời mời gọi của Cha để trở nên con cái Cha, đã chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội là dấu chỉ của Nước Trời. Nhưng quả thật, con vẫn chưa sống công chính xứng đáng với danh hiệu con cái Cha, hay với danh hiệu Kitô hữu. Con giống như những người dự tiệc cưới của hoàng tử mà không ăn mặc cho xứng đáng, đó chính là tội khi quân. Xin cho con ý thức được việc con mang danh hiệu con cái Cha mà lại không sống công chính xứng với danh hiệu ấy chính là một xúc phạm đến Cha. Vì «chó gầy hổ mặt chủ nhà», hay con cái làm điều xấu thì hổ mặt cha mẹ.

Nguyễn Chính Kết

 

Đồng phục của Nước Trời là tình yêu chân thực

 

Đồng phục của Nước Trời là tình yêu chân thực

 


 TIN MỪNG: Mt 22:1-14

(Chúa nhật 28 Thường Niên, 11/10/2026)

Dụ ngôn tiệc cưới

(1) Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: (2) «Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. (3) Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. (4) Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: «Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!» (5) Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn, (6) còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết. (7) Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. (8) Rồi nhà vua bảo đầy tớ: «Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. (9) Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới». (10) Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

 (11) «Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, (12) mới hỏi người ấy: «Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?» Người ấy câm miệng không nói được gì. (13) Nhà vua liền bảo những người phục dịch: «Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! (14) Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít».

 

CHIA SẺ

1. Ý nghĩa dụ ngôn tiệc cưới

Dụ ngôn tiệc cưới có ý nghĩa phần nào giống như dụ ngôn những tá điền sát nhân (Mt 21,33-46). Nhưng dụ ngôn này nói đến toàn dân Israel nhiều hơn giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái.

a) Ông Vua ám chỉ Thiên Chúa Cha: Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người bằng cách mời họ gia nhập vào Nước Trời.

b) Tiệc cưới ám chỉ Nước Trời: Nước Trời trước hết là tình trạng an bình, hạnh phúc ở trong những tâm hồn biết yêu thương, kế đến là một xã hội lý tưởng – vừa tại thế vừa tại thiên – trong đó mọi người đều được an vui hạnh phúc vì biết yêu thương nhau.

c) Con Vua ám chỉ Đức Giêsu: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, đến trần gian để thành lập Nước Trời.

d) Các quan khách được mời ám chỉ dân Do Thái: Nước Trời được dành ưu tiên cho dân Do Thái, là dân đặc biệt của Thiên Chúa.

đ) Đầy tớ Vua ám chỉ các ngôn sứ: Các ngôn sứ đã đến trong lịch sử để mời gọi người Do Thái gia nhập Nước Trời. Nhưng người Do Thái đa số không màng tới lời mời ấy, vì họ mải mê tìm những lợi lộc trần gian hơn là tìm sự công chính, lối sống yêu thương.

e) Người ở các ngả đường được mời vào dự tiệc ám chỉ dân ngoại được mời vào Nước Thiên Chúa. Người Do Thái không chịu gia nhập Nước Trời, nên Thiên Chúa đã mời dân ngoại vào thay thế họ.

g) Y phục lễ cưới: Theo phong tục văn hóa Do Thái thời ấy, trong đám cưới của nhà vua (hay của những nhà quý tộc), mỗi người vào dự tiệc đều được phát cho một chiếc áo cưới. Từ chối không mặc áo cưới này là tỏ ra khinh thường nhà Vua, nên mắc tội khi quân. Y phục lễ cưới này ám chỉ tình yêu thương chân thực, là điều kiện tất yếu phải có để được vào Nước Trời. Không có tình yêu thương chân thực, không thể vào được nước Trời. Vì Nước Trời là thế giới của tình yêu, nên chỉ những ai có tình yêu đích thực mới có thể ở đây. Những ai không có tình yêu đích thực thì bản thân họ không phù hợp với chốn này.

 

2. Dụ ngôn này đã ứng nghiệm trong quá khứ

Dân Do Thái là đối tượng ưu tiên được Thiên Chúa mời gọi vào Nước Trời. Ngài đã sai các ngôn sứ đến để mời gọi họ, yêu cầu họ sống tốt đẹp để gia nhập Nước Trời của Ngài. Nhưng hầu hết các ngôn sứ đến với dân Do Thái đều bị bách hại, ném đá hoặc giết chết, vì những lời cảnh cáo của các ngôn sứ không lọt tai họ. Họ chỉ thích nghe những ai nịnh nọt, ca tụng họ, phù hợp với quan niệm cố hữu của họ, chứ họ không thích những lời «thẳng mực tàu đau lòng gỗ» của các vị, hoặc những quan niệm mới mẻ, đúng đắn và phù hợp với thời đại hơn. Ngay cả Đức Giêsu cũng bị họ giết chết. Vì thế, bài Tin Mừng nói: «Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng» (Mt 22:7). Câu này đã được ứng nghiệm vào năm 70, sau khi Đức Giêsu bị dân Do Thái giết khoảng 40 năm sau. Năm đó, đế quốc Rôma đã tiêu diệt và phá bình địa đất nước Do Thái. Dân Do Thái bị mất nước và phải lưu lạc mãi đến năm 1947 mới lập quốc trở lại.

Người Do Thái từ chối lời mời gọi vào Nước Trời của Thiên Chúa, nên Ngài đã mời những người ngoài Do Thái vào. Và dân ngoại được Ngài mời gọi vào Nước của Ngài đã trở thành một tôn giáo là Kitô giáo ngày nay. Nhưng để vào được Nước của Ngài, những kẻ được mời phải có một trang phục thích hợp đó là tình yêu thương. Vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4:8.16). Nước của Ngài cũng là nước của tình yêu, nên dân trong nước ấy cũng phải là những người có tình yêu đích thực, biết yêu thương và biết sống vì tha nhân. Do đó, những người ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, không biết nghĩ đến người khác, cho dù có được người đời tưởng là đạo đức tới đâu, hay có chức vụ cao trong tôn giáo tới đâu, đều không thể là đối tượng của Nước Trời. Hiểu được điều này, ta sẽ không lạ gì khi nghe Đức Giêsu nói với «các thượng tế và kỳ mục trong dân»: «Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21:31). Hoặc nghe Ngài nói với những người có khả năng nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ trong ngày phán xét cuối cùng: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7:23).

Nghe bài Tin Mừng này, chúng ta cần nhận thức: khi gia nhập Kitô giáo, là ta đã chấp nhận lời mời của Thiên Chúa để vào Nước Trời. Nhưng ta có vào được Nước Trời hay không, điều này còn tùy thuộc vào việc chúng ta có chịu mặc vào mình chiếc «áo cưới», đồng phục của Nước Trời hay không. «Áo cưới» ấy chính là tình yêu chân thực, tương tự như tình yêu của Thiên Chúa. Hay ta lại cứ nhất định mặc chiếc «áo cưới» theo ý của ta, là sống đạo kiểu hương nguyện, chủ hình thức, chủ lễ nghi, chủ lề luật giống như những người Pharisêu xưa, mà thiếu hẳn chất «yêu thương», «vị tha», «quên mình» trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội. Nếu thế, dù ta có mang danh đạo đức cỡ nào trong cách sống đạo ấy, ta vẫn chẳng vào được Nước Trời đâu!

 

3. Tiếng nói của các ngôn sứ trong đời sống

Ngày xưa, có dân Do Thái và dân ngoại. Dân Do Thái là những người ưu tiên được mời vào Nước Trời, nhưng họ không thèm vào, nên Thiên Chúa đã phải mời dân ngoại vào. Và dân ngoại thời ấy, những người nhận lời mời của Thiên Chúa đã trở thành dân Kitô giáo thời nay. Tuy nhiên hiện nay, ngoài Kitô giáo vẫn còn có dân ngoại mới, là những người ngoài Kitô giáo. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đã mời gọi người Kitô hữu sống yêu thương như giới răn chính yếu nhất của Ngài. Nhưng đã đến lúc ta thử xét xem: với tư cách từng cá nhân Kitô hữu cũng như với tư cách tập thể Kitô giáo (chẳng hạn cộng đoàn giáo xứ, hội đoàn, giáo phận, giáo hội địa phương, Giáo Hội hoàn vũ), chúng ta đã đáp lại lời mời gọi sống yêu thương của Ngài chưa?

Khi dân Chúa không sống đúng với lời mời gọi của Thiên Chúa, Ngài thường sai đến những ngôn sứ để nói lên tiếng nói của Ngài. Nhưng thường thì các ngôn sứ đều bị đối xử như được diễn tả trong bài Tin Mừng: «Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết» (Mt 22:5-6). Chẳng mấy ai nhận ra được ngôn sứ của thời đại mình, vì các ngôn sứ thường nói ngược lại với quan niệm chính thống của thời đại, để sửa sai, hoàn chỉnh hoặc nâng cấp quan niệm ấy cho phù hợp với trình độ và nhu cầu tâm linh mới của con người thời đại. Vì thế, các vị thường bị những đồng đạo đương thời cho là phá hoại, sai lầm, thậm chí bị tẩy chay, bách hại, giết chết, hay ít ra là không thèm nghe, không đếm xỉa tới. Ngôn sứ đích thật luôn luôn bị đối xử như thế (x. Lc 6:22-23), chỉ có ngôn sứ giả mới được ưu đãi thôi (x. Lc 6:26). Tuy nhiên, những người nào thành tâm thiện chí, luôn luôn tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa để sống phù hợp với ý Ngài, sẽ nhận ra chân lý trong lời của các ngôn sứ.

Chúng ta có bao giờ để tâm lắng nghe tiếng nói của những ngôn sứ đồng thời với mình, mà Thiên Chúa sai đến để mời gọi ta sống đúng với thánh ý Thiên Chúa, để sửa sai, để nâng cấp quan niệm của thời đại không? Hay chúng ta sẽ hành xử giống những người Pharisêu xưa là: cứ tôn vinh, ca tụng các ngôn sứ thời đại trước mà cha ông họ đã bách hại và giết chết; nhưng chính họ lại bách hại và giết chết các ngôn sứ thời đại mình mà chỉ con cháu họ về sau mới nhận ra và tôn vinh là ngôn sứ (x. Mt 23:29-32)? Ôi cuộc đời thời nào cũng thế! Lịch sử cứ lập đi lập lại mãi những màn kịch và bài học giống nhau mà người đời không sao học được, nên cứ lầm lỗi mãi, cho dù đã được cảnh báo trước! Thời nào các ngôn sứ cũng bị người đồng thời đối xử như thế! Những gì đã xảy ra trong Do Thái giáo, liệu có đang xảy ra trong Giáo Hội và thế giới của chúng ta không?

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con nhận ra bộ đồng phục mà con cần phải có để vào được Nước Trời chính là tình yêu thương đích thực của con đối với đồng loại. Không có đồng phục này, thì dù con có mặc những y phục khác đẹp đẽ đến đâu, con cũng sẽ không được nhận vào Nước Trời. Xin cho con có được bộ đồng phục ấy.

Nguyễn Chính Kết