Thursday, October 8, 2026

Thực trạng tôn giáo và xã hội

 

Thực trạng tôn giáo và xã hội

 


TIN MỪNG: Mt 21:33-43

(Chúa nhật 27 Thường Niên, 04/10/2026)

Dụ ngôn những tá điền sát nhân

(33) Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: «Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. (34) Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. (35) Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. (36) Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. (37) Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: «Chúng sẽ nể con ta». (38) Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau:  (39) Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. (40) Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?» (41) Họ đáp: «Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông». (42) Đức Giêsu bảo họ: «Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.

(43) «Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.»

 

CHIA SẺ

1. Đức Giêsu đến hoàn chỉnh tôn giáo cũ và thiết lập Nước Trời

Đức Giêsu đã đến trần gian, Ngài có nhiệm vụ thành lập Nước Trời, là một vương quốc bình an, hạnh phúc, nơi ấy tình yêu luôn ngự trị trong tâm hồn mọi người, và mọi người đều đối xử với nhau bằng tình yêu. Nước ấy trước tiên và cần thiết nhất phải được thành lập trong lòng mỗi người: «Nước Thiên Chúa ở trong các ông», (bản tiếng Anh của NIV là: «The kingdom of God is within you» – Lc 17:21). Và từ trong lòng mỗi người, Nước ấy mới được thể hiện trong xã hội và thế giới thành một vương quốc hoàn hảo, tốt đẹp, trong đó mọi người đều thật sự hạnh phúc. Để thực hiện Nước ấy, Ngài đã hoàn chỉnh, nâng cấp tôn giáo của Cựu ước – mà Môsê đã có công luật pháp hóa thành một tôn giáo có quy củ – bằng cách nội tâm hóa tôn giáo ấy. Ngài chủ trương: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4:21.23).

Nhưng giáo lý mới của Ngài nói chung chỉ được giới bình dân chấp nhận (đặc biệt bọn thu thuế, gái điếm, những người tội lỗi). Còn giới lãnh đạo tôn giáo thời ấy không chấp nhận. Chẳng những không chấp nhận, họ còn cho rằng Ngài là kẻ phá hoại tôn giáo, làm đảo lộn những giá trị truyền thống của tôn giáo, vốn chuộng những hình thức, lễ bái bên ngoài. Họ cho rằng những truyền thống này xuất phát từ Thiên Chúa nên con người không được thay đổi. Vì thế, họ đã tìm cách trừ khử Ngài. Và cuối cùng, do âm mưu của họ, Ngài đã bị kết án tử hình thập giá. Họ giết Ngài với lý do: bảo vệ truyền thống tôn giáo. Nhưng họ hành động như vậy vì quyền lợi của Thiên Chúa thì ít, mà vì quyền lợi của họ thì nhiều. Vì truyền thống ấy đã và đang đem lại nhiều đặc quyền đặc lợi cho họ trong tôn giáo cũng như ngoài xã hội. Ngài biết trước và báo trước họ sẽ giết Ngài, đồng thời tố cáo tội ác của họ qua dụ ngôn những tá điền sát nhân.

 

2.  Ý nghĩa của dụ ngôn những tá điền sát nhân

Trong dụ ngôn này, bằng hình thức ẩn dụ, Đức Giêsu vạch trần sự sang đoạt quyền lợi của Thiên Chúa và âm mưu giết Con của Ngài – là Đức Giêsu – của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn ám chỉ:

a- Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa;

b- Vườn nho là dân Israel;

c- Các tá điền là giới chức sắc lãnh đạo Do Thái giáo;

d- Đầy tớ của chủ vườn đến thu lợi là các ngôn sứ;

e- Người con trai của chủ vườn là Đức Giêsu;

g- Các tá điền khác là dân ngoại.

Thiên Chúa lập nên Do Thái giáo và giao cho giới lãnh đạo tôn giáo trông coi để đem lại nguồn lợi – là vinh quang của Ngài cũng là hạnh phúc của dân chúng – về cho Ngài. Nhưng nhiều khi giới lãnh đạo tôn giáo thay vì quan tâm đem lại vinh quang cho Ngài và hạnh phúc cho nhân loại, thì lại chỉ quan tâm tìm kiếm, bảo vệ, củng cố vinh quang, quyền bính và quyền lợi cho bản thân và cho giới chức sắc của mình. Đối với họ, Thiên Chúa và tôn giáo chỉ là bình phong, chiêu bài để họ tiến thân trong môi trường tôn giáo và xã hội, để họ nắm vững quyền bính và quyền lợi đã đạt được. Quyền bính thay vì họ dùng để phục vụ dân Chúa, đem lại hạnh phúc cho dân, thì họ lại dùng để củng cố vinh quang bản thân họ, để áp đặt lên dân chúng ách thống trị của họ, để có được một đời sống giàu sang, phú quý, an nhàn cho họ.

Các ngôn sứ đã lên tiếng cảnh báo họ, yêu cầu họ đi vào đường ngay nẻo chính thì họ tìm cách hãm hại bằng nhiều cách. Khi Đức Giêsu đến để cải cách tôn giáo, nâng cấp tôn giáo lên, thì giới lãnh đạo Do Thái giáo đã chụp mũ Ngài là phá hoại tôn giáo, là lộng ngôn phạm thượng, chống lại Thiên Chúa, chống lại quyền bính tôn giáo, là kẻ nguy hại cho tôn giáo, cho trật tự xã hội, v.v… Họ còn cấu kết với chính quyền ngoài đời để kết án Ngài. Họ đã mượn danh nghĩa bảo vệ vinh quang Chúa, bảo vệ tôn giáo để trừ khử Ngài, nhưng kỳ thực họ chỉ muốn bảo vệ quyền bính và những đặc quyền đặc lợi của họ trong tôn giáo và xã hội mà thôi. Giáo lý mới của Đức Giêsu mang tính nội tâm hóa rất cao, coi nhẹ những hình thức lễ bái bên ngoài mà nhấn mạnh hơn thái độ nội tâm. Mà dân chúng thì càng ngày càng có nhiều người nghe theo giáo huấn của Ngài. Vì thế, họ cảm thấy uy tín của Ngài, những lời giảng dạy có tính cách mạng của Ngài rất nguy hiểm cho quyền bính và quyền lợi của họ, mà họ cảm thấy phải bảo vệ cho bằng được. Một cách nào đó, họ đã ăn cướp vinh quang của Thiên Chúa, cũng là hạnh phúc của dân chúng.

 

3. Chúng ta đang đóng vai trò nào trong vở kịch?

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: dụ ngôn này chỉ đúng cho tôn giáo thời của Ngài – là Do Thái giáo – mà thôi, hay nó cũng có thể đúng cho tôn giáo mọi thời đại? Nếu nó chỉ đúng với Do Thái giáo trong quá khứ mà thôi, thì dụ ngôn này không có giá trị cho thời đại chúng ta. Và nếu thế thì 4 sách Tin Mừng đã có những phần không có giá trị thực tế cho mọi thời mọi nơi. Điều này người Kitô hữu khó có thể chấp nhận, vì Tin Mừng được mọi Kitô hữu tin rằng có giá trị cho mọi nơi mọi thời. Vì thế, dụ ngôn này vẫn có thể đúng với mọi tôn giáo trong mọi thời đại. Nghĩa là vẫn có thể đúng trong thời đại chúng ta. Nếu thế, chúng ta thử thật lòng xét mình xem, ta có dự phần vào vở kịch của dụ ngôn này không?

– Ta sẽ đóng vai giới lãnh đạo tôn giáo, nếu ta đang là một chức sắc tôn giáo và ta đang cương quyết nhân danh vinh quang và quyền lợi Thiên Chúa để bảo vệ quyền bính và quyền lợi mình, hơn là thật sự bảo vệ vinh quang và quyền lợi của Ngài, tức bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của nhân loại, đặc biệt những người bé nhỏ nhất, đang bị đàn áp, bóc lột trong thế giới. Muốn biết điều này rất dễ: Ta chỉ cần xét xem ta có thật sự quan tâm đến hạnh phúc của những kẻ nghèo hèn bé mọn, những kẻ bị áp bức trong xã hội để bênh vực họ không? Đó là những người mà Đức Giêsu đã tự đồng hóa với chính Ngài. Ta có thật sự ưu ái và nâng đỡ họ trong cảnh khốn cùng không, hay ta chỉ ưu ái những kẻ giàu sang, và đứng về phe có quyền bính trong xã hội? Nhất là ta có ác cảm, chụp mũ, mạ lị những ai dám nói thẳng nói thật những bất công, bất hợp lý trong cộng đoàn, xứ đạo hay Giáo Hội không?

– Ta sẽ đóng vai các ngôn sứ của Thiên Chúa, nếu ta dám hành động vì vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc nhân loại, dám làm chứng cho Thiên Chúa, dám lên tiếng và ra mặt bênh vực kẻ cô thân cô thế, bị bóc lột áp bức, bất chấp phải hy sinh quyền lợi, hạnh phúc cá nhân. Ngôn sứ là người của Thiên Chúa, của chân lý, công lý và tình thương, hơn là người của một thế lực trần gian, cho dù là Giáo Hội. Nhất là những khi Giáo Hội đang đi sai đường lối của Thiên Chúa như đã từng thấy trong lịch sử. Ngôn sứ của Thiên Chúa là người dám lên tiếng cho sự thật, cho tình thương, bất chấp bị đồng đạo hiểu lầm, kết án hay chụp mũ. Số phận các ngôn sứ luôn luôn là như thế (x. Mt 5:12; Lc 6:23).

– Ta sẽ đóng vai dân chúng bị giật dây khi ta sẵn sàng hùa theo giới có chức có quyền để được hưởng chút ít quyền lợi mà họ ban phát cho mình, bất chấp họ làm những điều sai trái. Cũng như dân Do Thái xưa: họ biết Đức Giêsu nói đúng, nói thật nên muốn tôn Ngài làm vua, nhưng khi giới lãnh đạo tôn giáo âm mưu hại Ngài, thì dân chúng lại hùa theo họ, tạo cho họ một hậu thuẫn mạnh mẽ để lên án và giết chết Ngài. Vì dân chúng là những người dễ bị doạ nạt, không dám suy nghĩ độc lập theo lương tri mình, chỉ biết suy nghĩ và làm theo những gì người có quyền dạy bảo, tuyên truyền. Họ sẵn sàng hành động như đàn cừu Panurge! (con đầu đàn nhảy xuống biển thì cả đàn nhảy theo!) Sức mạnh của giới lãnh đạo nhiều khi dựa trên sự hậu thuẫn này. Thật vậy, nếu dân chúng không hùa theo giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, mà dám hành động theo lương tri mình, thì giới này chưa chắc đã hại được Ngài. Vì thế, dân chúng cũng có trách nhiệm trước cái chết của Ngài, và của những ngôn sứ đi trước và sau Ngài!

Rất có thể mỗi người chúng ta đều đang đóng một vai tương tự trong vở kịch ấy. Đôi khi phải thành thật với chính mình và với Thiên Chúa, đồng thời có can đảm chấp nhận sự thật, chúng ta mới nhận ra mình đang đóng vai trò nào. Điều ta phải lưu ý đó là trách nhiệm của ta gắn liền với vai trò ta đóng. Bài Tin Mừng nói: «Ác giả ác báo» (Mt 21:41) là một lời cảnh cáo!

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, đọc dụ ngôn những tá điền sát nhân của Đức Giêsu, con nhận ra dụ ngôn ấy đang là một thực tại sống động trong thế giới hiện tại con đang sống, mà trong đó con đang đóng một vai trò, và là một nhân vật trong đó. Xin cho con đủ chân thành và sáng suốt để nhận ra vai trò con đang đóng là vai trò nào, có đẹp lòng Cha không, vai trò đó được Cha chúc lành hay nguyền rủa. Xin giúp con thành thật với chính bản thân con và với Cha.

Nguyễn Chính Kết


 

 

CHIA SẺ

 

1. Ý nghĩa dụ ngôn những tá điền sát nhân

Bài Tin Mừng hôm nay là một dụ ngôn có ý nói bóng gió về tình trạng đã, đang và xảy ra trong dân Do Thái, mà trước mắt có sự góp phần của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái là âm mưu giết Đức Giêsu. Kết cục được diễn tả trong câu cuối của bài Tin Mừng là: Dân Do Thái được Thiên Chúa dành ưu tiên trong việc vào Nước Thiên Chúa, nhưng vì họ tỏ ra không xứng đáng, nên chỗ ưu tiên của họ được nhường cho những dân tộc khác.

Thiên Chúa đã yêu quí dân Do Thái, điều này được diễn tả trong bài đọc I: Thiên Chúa cưng chiều dân Do Thái  như một người có một vườn nho mà anh ta rất quí: «Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho» (Is 5,2a). Anh quí nó đến nỗi làm cho nó tất cả những gì mà anh nghĩ nó cần nó thích: «Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?» (5,4). Anh ta kỳ vọng rất nhiều vào vườn nho đó, nhưng vườn nho đã làm anh thất vọng: «Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại» (5,2b). Một vườn nho như thế thì người chủ nên làm gì cho nó? Thất vọng vì vườn nho ấy, anh ta đã «hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo (…) biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm; truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa tưới xuống» (5,5-6). Vườn nho đó được I-sa-i-a xác định: «Vườn nho đó chính là nhà Ítraen; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, chính là người xứ Giu-đa. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than» (5,7).

Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục khai triển chủ đề «vườn nho» của bài đọc I (Is 5,1-7), với những ám chỉ sau đây: 1. Vườn nho ám chỉ dân Do Thái; 2. Ông chủ đất ® Thiên Chúa; 3. Bọn tá điền ® Các lãnh tụ tôn giáo Do Thái; 4. Các tôi tớ của chủ đất ® Các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến; 5. Người con trai của ông chủ ® Đức Giêsu; 6. Các tá điền khác ® Dân ngoại.

Toàn bài dụ ngôn nói lên diễn tiến trong lịch sử dân Do Thái: Thiên Chúa chọn Do Thái là dân riêng của Ngài giữa mọi dân tộc. Ngài muốn họ là cầu nối giữa Ngài với mọi dân tộc khác và với toàn nhân loại. Để thực hiện mục đích ấy, Ngài đã sai các ngôn sứ đến để dạy dỗ, sửa đổi và cho họ biết ý định của Ngài. Nhưng lời nói của những ngôn sứ này thường không lọt lỗ tai các lãnh tụ tôn giáo Do Thái, vì «trung ngôn nghịch nhĩ», «lời thật mích lòng». Và kết quả là các ngôn sứ này đều bị ném đá chết dưới tay các lãnh tụ tôn giáo Do Thái. Chính ngôn sứ Êlia đã phải than phiền: «Khi cầu nguyện với Thiên Chúa, ông đã tố cáo dân Ítraen rằng: Lạy Chúa, các ngôn sứ của Ngài, chúng đã giết chết; bàn thờ của Ngài, chúng đã phá huỷ. Chỉ còn sót lại một mình con, thế mà chúng cũng đang tìm hại mạng sống con» (Rm 11,3; x. V 19,10.14).

Cuối cùng, Thiên Chúa sai chính Con Một của mình đến cũng để làm công việc ngôn sứ ấy, thì cũng bị họ giết chết một cách dã man và thảm hại. Dân Do Thái vì hèn nhát trước quyền lực nên cũng hùa theo các lãnh tụ của họ. Vì thế, dân Do Thái đã bị Thiên Chúa loại bỏ, mất quyền ưu tiên đối với Nước Trời. Và Nước Trời do Đức Giêsu thiết lập – gồm những người tin theo Đức Giêsu – bao gồm những người mà người Do Thái gọi là dân ngoại, gồm đủ mọi dân tộc trên thế giới.

Còn dân Do Thái đã bị đào thải khỏi lịch sử: tháng 9 năm 70, Titus, lúc ấy làm thống s oái quân đội Rôma (sau làm hoàng đế năm 79-81), đã bao vây và chiếm Giêrusalem, giết rất nhiều người Do Thái. Kể từ đó, Do Thái bị mất nước, và dân Do Thái phải tản mác khắp nơi trên thế giới. Đến thế chiến thứ hai, dân Do Thái tại Đức đã bị Hitler giết tới 6 triệu người. Mãi đến năm 1947, sau gần 19 thế kỷ bị mất nước, Do Thái đã lập quốc trở lại tại vùng đất cũ, nhưng kể từ đó, họ phải chiến tranh liên tục với dân Palestin và Ai Cập cho đến nay.

2. Dụ ngôn đó có áp dụng cho Giáo Hội chúng ta không?

Khi tôi học Cựu Ước, giáo sư dạy Kinh Thánh cho tôi thường nói: «Israel là Giáo Hội, Israel là chính tôi». Vì thế, nếu bài dụ ngôn kia có thể áp dụng cho dân Do Thái, thì cũng có thể áp dụng cho Giáo Hội và cho chính bản thân tôi.

Do Thái giáo là một tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập qua các tổ phụ, Môsê và các ngôn sứ, với hàng giáo phẩm là các tư tế, lê-vi và các ráp-bi. Thiên Chúa đã trực tiếp can thiệp vào lịch sử của dân tộc, đã ra tay giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách thống trị Ai Cập, đã đích thân ban hành luật pháp cho họ, đã trực tiếp chỉ định những vì vua cai trị họ… Ngay cả Kitô giáo hiện nay cũng chưa được Thiên Chúa trực tiếp can thiệp như thế. Có ngôn sứ nào trong Kitô giáo oai hùng như I-sa-i-a, khi ra lệnh cho dân Do Thái điều gì thì đều nói: «Thiên Chúa là Chúa các đạo binh phán như thế» (x. Is 1,24; 3,15; 5,9; 10,24; 14,22-24; 17,3; 19,4; v. v…) Vì thế, dân Do Thái đã rất có lý khi nghĩ rằng tôn giáo của mình do Thiên Chúa thiết lập ắt sẽ vĩnh cửu, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy họ đã lầm. Do Thái giáo đã tàn lụi, và được thay thế bằng Kitô giáo. Có thể nói, Do Thái giáo chính là tiền thân của Kitô giáo.

Kitô giáo hiện nay cũng đang tự hào là tôn giáo duy nhất do chính Thiên Chúa thiết lập, là tôn giáo có giá trị hơn hết mọi tôn giáo trên thế giới, nên mọi Kitô hữu đều tin tưởng nó sẽ tồn tại muôn đời, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng nhiều khi các Giáo Hội Kitô giáo chỉ biết tự hào như thế mà quên đi niềm mong ước của chính Thiên Chúa đối với mình. Liệu Thiên Chúa có phải than phiền về Kitô giáo như đã than về Do Thái giáo: «Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại?» Kitô giáo đã hơn Do Thái giáo những gì?

Đức Giêsu đến để thiết lập một tôn giáo mới dựa trên nền tảng tình yêu thương, và luật của Kitô giáo là luật yêu thương: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34); «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8.10); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô» (Gl 6,2); «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2,8).

Luật của Tân Ước mới hẳn so với Cựu Ước của Do Thái giáo, nhưng các Kitô hữu đã coi trọng luật ấy đủ chưa? đã tập trung mọi cố gắng để thực hành luật ấy đúng mức chưa? Hay Kitô giáo lại đi vào vết xe đã đổ của Do Thái giáo, là thượng tôn nghi thức, quá chú trọng tới những lễ nghi và hình thức bên ngoài? Còn lề luật chính yếu là sống yêu thương thì lại lãng quên? Có phải hiện nay hình thức của Kitô giáo thì mới mẻ và khác hơn Do Thái giáo, nhưng tinh thần nệ luật, nệ hình thức thì chẳng khác gì những người Do Thái ngày xưa? Đã tới lúc chúng ta cần nghiêm túc tự hỏi: ngày nay, người ngoài nhìn vào cách sống của người Kitô hữu, có thể nhận ra đạo của chúng ta là «đạo yêu thương» như thời Kitô giáo sơ khai không? Ngày nay, lễ «bẻ bánh» có còn là một dấu chỉ của một sự chia sẻ có thực trong đời sống giữa những người đến tham dự không, hay nó đã trở thành một nghi thức thuần túy, cho dù đầy ý nghĩa nhưng không có gì là thực tế cho lắm?

Mỗi Kitô hữu – nhất là những người có trách nhiệm hướng dẫn, lãnh đạo tôn giáo – cần tự vấn: Thiên Chúa hay Đức Giêsu có hài lòng với tình trạng Kitô giáo hiện nay không? Còn những người lãnh đạo tôn giáo cần tự vấn thêm: Tôi có giống như những vị lãnh đạo Do Thái giáo xưa, chẳng những không thèm nghe mà còn sẵn sàng bạc đãi hoặc bách hại những tiếng nói ngôn sứ vào thời đại của mình không? Hay ít ra khi họ bị bách hại vì đã chu toàn chức năng ngôn sứ của họ, tôi đã im lặng, làm ngơ, để mặc họ bị bách hại như thể tôi cũng đồng ý với sự bách hại ấy?

Không khéo Kitô giáo của chúng ta chẳng hơn gì Do Thái giáo, khiến Thiên Chúa cũng sẽ phải đối xử với chúng ta như đã đối xử với dân Do Thái: «Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi»!

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Kitô giáo hiện nay thế nào, chính con – cũng như bất kỳ Kitô hữu nào – đều có phần nào trách nhiệm. Xin cho con biết sống đạo Chúa Kitô đúng với với tinh thần yêu thương của Ngài. Xin cho con rút ra được bài học lịch sử của dân Do Thái để tránh được vết xe đã đổ.

Nguyễn Chính Kết

 


No comments:

Post a Comment