Đồng phục của Nước Trời là tình yêu chân thực
(Chúa nhật 28 Thường
Niên, 11/10/2026)
Dụ ngôn
tiệc cưới
(1) Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: (2) «Nước Trời
cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. (3) Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách
đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. (4) Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn
họ: «Hãy thưa với quan khách đã được
mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn.
Mời quý vị đến dự tiệc cưới!» (5)
Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa
tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn, (6) còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua
mà sỉ nhục và giết chết. (7) Nhà
vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ
thành phố của chúng. (8) Rồi
nhà vua bảo đầy tớ: «Tiệc cưới đã sẵn
sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. (9) Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai
cũng mời hết vào tiệc cưới». (10)
Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp
ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực
khách.
(11) «Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự
tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, (12) mới hỏi người ấy: «Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?» Người ấy câm miệng không nói được gì. (13)
Nhà vua liền bảo những người phục dịch:
«Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ
tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! (14) Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn
thì ít».
CHIA SẺ
1. Ý nghĩa dụ ngôn tiệc
cưới
Dụ ngôn tiệc cưới có ý nghĩa phần nào giống
như dụ ngôn những tá điền sát nhân (Mt 21,33-46). Nhưng dụ ngôn này nói đến
toàn dân Israel nhiều hơn giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái.
a) Ông Vua ám chỉ Thiên Chúa Cha: Thiên Chúa muốn cứu
độ mọi người bằng cách mời họ gia nhập vào Nước Trời.
b) Tiệc cưới ám chỉ Nước Trời: Nước Trời trước hết là
tình trạng an bình, hạnh phúc ở trong những tâm hồn biết yêu thương, kế đến là
một xã hội lý tưởng – vừa tại thế vừa
tại thiên – trong đó mọi người đều được
an vui hạnh phúc vì biết yêu thương nhau.
c) Con Vua ám chỉ Đức Giêsu: Đức Giêsu là Con Thiên
Chúa, đến trần gian để thành lập Nước Trời.
d) Các quan khách được mời ám chỉ dân Do Thái: Nước Trời được dành ưu
tiên cho dân Do Thái, là dân đặc biệt của Thiên Chúa.
đ) Đầy tớ Vua ám chỉ các ngôn sứ: Các ngôn sứ đã đến
trong lịch sử để mời gọi người Do Thái gia nhập Nước Trời. Nhưng người Do Thái
đa số không màng tới lời mời ấy, vì họ mải mê tìm những lợi lộc trần gian hơn
là tìm sự công chính, lối sống yêu thương.
e) Người ở các ngả đường được mời vào dự tiệc ám chỉ dân
ngoại được mời vào Nước Thiên Chúa. Người Do Thái không chịu gia nhập
Nước Trời, nên Thiên Chúa đã mời dân ngoại vào thay thế họ.
g) Y phục lễ cưới: Theo phong tục văn hóa Do Thái thời ấy, trong đám
cưới của nhà vua (hay của những nhà quý tộc), mỗi người vào dự tiệc đều được
phát cho một chiếc áo cưới. Từ chối không mặc áo cưới này là tỏ ra khinh thường
nhà Vua, nên mắc tội khi quân. Y phục lễ cưới này ám chỉ tình yêu thương chân thực,
là điều kiện tất yếu phải có để được vào Nước Trời. Không có tình yêu thương
chân thực, không thể vào được nước Trời. Vì Nước Trời là thế giới của tình yêu,
nên chỉ những ai có tình yêu đích thực mới có thể ở đây. Những ai không có tình
yêu đích thực thì bản thân họ không phù hợp với chốn này.
2. Dụ ngôn này đã ứng
nghiệm trong quá khứ
Dân Do Thái là đối tượng ưu tiên được Thiên
Chúa mời gọi vào Nước Trời. Ngài đã sai các ngôn sứ đến để mời gọi họ, yêu cầu
họ sống tốt đẹp để gia nhập Nước Trời của Ngài. Nhưng hầu hết các ngôn sứ đến với
dân Do Thái đều bị bách hại, ném đá hoặc giết chết, vì những lời cảnh cáo của
các ngôn sứ không lọt tai họ. Họ chỉ thích nghe những ai nịnh nọt, ca tụng họ,
phù hợp với quan niệm cố hữu của họ, chứ họ không thích những lời «thẳng mực tàu đau lòng gỗ» của các vị,
hoặc những quan niệm mới mẻ, đúng đắn và phù hợp với thời đại hơn. Ngay cả Đức
Giêsu cũng bị họ giết chết. Vì thế, bài Tin Mừng nói: «Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và
thiêu huỷ thành phố của chúng» (Mt 22:7). Câu này đã được ứng nghiệm vào
năm 70, sau khi Đức Giêsu bị dân Do Thái giết khoảng 40 năm sau. Năm đó, đế quốc
Rôma đã tiêu diệt và phá bình địa đất nước Do Thái. Dân Do Thái bị mất nước và
phải lưu lạc mãi đến năm 1947 mới lập quốc trở lại.
Người Do Thái từ chối lời mời gọi vào Nước Trời
của Thiên Chúa, nên Ngài đã mời những người ngoài Do Thái vào. Và dân ngoại được
Ngài mời gọi vào Nước của Ngài đã trở thành một tôn giáo là Kitô giáo ngày nay.
Nhưng để vào được Nước của Ngài, những kẻ được mời phải có một trang phục thích
hợp đó là tình yêu thương. Vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4:8.16).
Nước của Ngài cũng là nước của tình yêu, nên dân trong nước ấy cũng phải là những
người có tình yêu đích thực, biết yêu thương và biết sống vì tha nhân. Do đó,
những người ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, không biết nghĩ đến người khác, cho
dù có được người đời tưởng là đạo đức tới đâu, hay có chức vụ cao trong tôn
giáo tới đâu, đều không thể là đối tượng của Nước Trời. Hiểu được điều này, ta
sẽ không lạ gì khi nghe Đức Giêsu nói với «các
thượng tế và kỳ mục trong dân»: «Những
người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt
21:31). Hoặc nghe Ngài nói với những người có khả năng nói tiên tri, trừ quỷ,
làm nhiều phép lạ trong ngày phán xét cuối cùng: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều
gian ác» (Mt 7:23).
Nghe bài Tin Mừng này, chúng ta cần nhận thức:
khi gia nhập Kitô giáo, là ta đã chấp nhận lời mời của Thiên Chúa để vào Nước
Trời. Nhưng ta có vào được Nước Trời hay không, điều này còn tùy thuộc vào việc
chúng ta có chịu mặc vào mình chiếc «áo
cưới», đồng phục của Nước Trời hay không. «Áo cưới» ấy chính là
tình yêu chân thực, tương tự như tình yêu của Thiên Chúa. Hay ta lại cứ nhất định
mặc chiếc «áo cưới» theo ý của ta, là
sống đạo kiểu hương nguyện, chủ hình thức, chủ lễ nghi, chủ lề luật giống như
những người Pharisêu xưa, mà thiếu hẳn chất «yêu thương», «vị tha», «quên mình» trong cuộc sống cá nhân, gia
đình và xã hội. Nếu thế, dù ta có mang danh đạo đức cỡ nào trong cách sống đạo ấy,
ta vẫn chẳng vào được Nước Trời đâu!
3. Tiếng nói của các ngôn
sứ trong đời sống
Ngày xưa, có dân Do Thái và dân ngoại. Dân Do
Thái là những người ưu tiên được mời vào Nước Trời, nhưng họ không thèm vào,
nên Thiên Chúa đã phải mời dân ngoại vào. Và dân ngoại thời ấy, những người nhận
lời mời của Thiên Chúa đã trở thành dân Kitô giáo thời nay. Tuy nhiên hiện nay,
ngoài Kitô giáo vẫn còn có dân ngoại mới, là những người ngoài Kitô giáo. Qua Đức
Giêsu, Thiên Chúa đã mời gọi người Kitô hữu sống yêu thương như giới răn chính
yếu nhất của Ngài. Nhưng đã đến lúc ta thử xét xem: với tư cách từng cá nhân
Kitô hữu cũng như với tư cách tập thể Kitô giáo (chẳng hạn cộng đoàn giáo xứ, hội
đoàn, giáo phận, giáo hội địa phương, Giáo Hội hoàn vũ), chúng ta đã đáp lại lời
mời gọi sống yêu thương của Ngài chưa?
Khi dân Chúa không sống đúng với lời mời gọi
của Thiên Chúa, Ngài thường sai đến những ngôn sứ để nói lên tiếng nói của
Ngài. Nhưng thường thì các ngôn sứ đều bị đối xử như được diễn tả trong bài Tin
Mừng: «Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ
thì đi thăm trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của
vua mà sỉ nhục và giết chết» (Mt
22:5-6). Chẳng mấy ai nhận ra được ngôn sứ của thời đại mình, vì các ngôn sứ
thường nói ngược lại với quan niệm chính thống của thời đại, để sửa sai, hoàn
chỉnh hoặc nâng cấp quan niệm ấy cho phù hợp với trình độ và nhu cầu tâm linh mới
của con người thời đại. Vì thế, các vị thường bị những đồng đạo đương thời cho
là phá hoại, sai lầm, thậm chí bị tẩy chay, bách hại, giết chết, hay ít ra là
không thèm nghe, không đếm xỉa tới. Ngôn sứ đích thật luôn luôn bị đối xử như
thế (x. Lc 6:22-23), chỉ có ngôn sứ giả mới được ưu đãi thôi (x. Lc 6:26). Tuy
nhiên, những người nào thành tâm thiện chí, luôn luôn tìm hiểu thánh ý Thiên
Chúa để sống phù hợp với ý Ngài, sẽ nhận ra chân lý trong lời của các ngôn sứ.
Chúng ta có bao giờ để tâm lắng nghe tiếng
nói của những ngôn sứ đồng thời với mình, mà Thiên Chúa sai đến để mời gọi ta sống
đúng với thánh ý Thiên Chúa, để sửa sai, để nâng cấp quan niệm của thời đại
không? Hay chúng ta sẽ hành xử giống những người Pharisêu xưa là: cứ tôn vinh,
ca tụng các ngôn sứ thời đại trước mà cha ông họ đã bách hại và giết chết;
nhưng chính họ lại bách hại và giết chết các ngôn sứ thời đại mình mà chỉ con
cháu họ về sau mới nhận ra và tôn vinh là ngôn sứ (x. Mt 23:29-32)? Ôi cuộc đời
thời nào cũng thế! Lịch sử cứ lập đi lập lại mãi những màn kịch và bài học giống
nhau mà người đời không sao học được, nên cứ lầm lỗi mãi, cho dù đã được cảnh
báo trước! Thời nào các ngôn sứ cũng bị người đồng thời đối xử như thế! Những
gì đã xảy ra trong Do Thái giáo, liệu có đang xảy ra trong Giáo Hội và thế giới
của chúng ta không?
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con nhận ra bộ đồng phục mà
con cần phải có để vào được Nước Trời chính là tình yêu thương đích thực của
con đối với đồng loại. Không có đồng phục này, thì dù con có mặc những y phục
khác đẹp đẽ đến đâu, con cũng sẽ không được nhận vào Nước Trời. Xin cho con có
được bộ đồng phục ấy.
Nguyễn Chính Kết

No comments:
Post a Comment