Hai phong cách lãnh đạo
TIN MỪNG: Mt 23,1-12
(Chúa nhật 31 Thường Niên,
01/11/2026)
Các
kinh sư và người Pharisêu giả hình
(1) Bấy giờ, Đức Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ
Người rằng: (2)
«Các kinh
sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy. (3) Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm,
hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. (4)
Họ bó những gánh nặng mà chất lên
vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. (5)
Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ
thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. (6)
Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc,
chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, (7) ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là
“rápbi”.
(8) «Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là “rápbi”, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. (9)
Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất
này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. (10)
Anh em cũng đừng để ai gọi mình là
người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. (11) Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm
người phục vụ anh em. (12) Ai
tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.»
CHIA SẺ
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mô tả chân dung của giới chức
sắc đạo Do Thái thời Ngài. Ngài nhấn mạnh đến khuynh hướng vị kỷ, ham danh, tự
tôn tự đại, chuộng hình thức bề ngoài nhưng rỗng tuếch bề trong của họ. Để rồi
Ngài yêu cầu các môn đệ, những người theo Ngài, phải có một thái độ ngược lại:
tự xóa mình, quên mình, coi mình không là gì cả, để dấn thân hết mình phục vụ
tha nhân. Như thế, bài Tin Mừng này mô tả hai phong cách: phong cách của những
người lãnh đạo trong Do Thái giáo thời Ngài, và phong cách mà người lãnh đạo
trong tôn giáo mới của Ngài phải có. Ngài mong những người lãnh đạo trong tôn
giáo mới của Ngài đừng đi vào vết xe cũ đã đổ của những người đi trước. Sự khác
biệt căn bản giữa hai phong cách ấy, một đằng là khuynh hướng vị kỷ của giới
lãnh đạo cũ, và đằng kia là khuynh hướng vị tha mà giới lãnh đạo tôn giáo mới
phải có.
1. Khuynh hướng đặt nặng
«cái tôi» của giới chức sắc tôn giáo cũ
Trong môi trường tôn giáo, trong các hoạt động tôn giáo,
các kinh sư và những người Pharisêu xưa có một động lực rất căn bản là «vì mình», coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, muốn quy tất cả vinh quang,
uy tín, quyền bính, quyền lợi về cho mình, để được sống vinh quang và an nhàn
trên đầu trên cổ mọi người. Đang khi thực chất về mặt tâm linh của họ thì chẳng
có gì, tất cả chỉ là bề ngoài. Họ giảng dạy những điều hay lẽ phải vì đó là chức
năng của họ, nhưng họ giảng là để người khác nghe và thực hiện, chứ chính họ
thì chẳng thèm làm. Vì thế, Đức Giêsu khuyên các môn đệ: «Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm,
thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên
vai người ta, nhưng chính họ thì không buồn động ngón tay vào» (Mt 23,3-4).
Đức Giêsu tố cáo tính thích hư danh của họ, thích «cái tôi» của mình được đề cao, ca tụng,
được phình to lên trước mặt mọi người: «Họ
làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn,
mang những tua áo thật dài. Họ
ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng
và được thiên hạ gọi là “rápbi”»
(Mt 23,5-7). Ai không chào hỏi hay xưng hô với họ như thế thì họ khó chịu ra mặt.
Điều họ ham thích nhất là quyền bính: có quyền là có thể ép buộc người khác làm
theo ý mình, có thể chi phối người khác, được mọi người quỵ lụy, xin xỏ, cầu cạnh,
nể sợ. Họ thích mọi người phải nghe lời họ, làm theo ý họ, không thích nghe ai
hay làm theo ai cả, vì thế, họ thường bỏ ngoài tai tất cả những góp ý của người
khác.
Với một tâm thức như thế, mọi việc làm của họ dù tốt đẹp
hay vĩ đại đến đâu, đều trở nên những con số không to tướng trước mặt Thiên
Chúa. Vì chỉ những việc làm nào được thúc đẩy hay phát xuất từ tình yêu thương
chân thực mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Họ chỉ có thể được đánh giá cao
trước người đời chứ không phải trước Thiên Chúa. Và như thế, họ đã được người đời
thưởng công rồi (x. Mt 6,2.5), họ chẳng còn công trạng gì trước Thiên Chúa nữa.
Việc truyền giáo của họ chỉ đạt được những thành quả hời hợt bên ngoài, không
có chiều sâu tâm linh bên trong.
2. Khuynh hướng từ bỏ «cái
tôi» của người theo Chúa
Để theo Ngài, Đức Giêsu đưa ra hai điều kiện rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập
giá mình mà theo» (Mt 16,24). Như vậy, điều kiện căn bản nhất của những
ai muốn theo Chúa là từ bỏ chính mình, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình; và điều kiện kế đó là
sẵn
sàng chấp nhận hy sinh, thiệt thòi, đau khổ vì tình yêu đối với Ngài và
tha nhân. Một khi đã thật sự từ bỏ mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, thì không còn ham được ca tụng, đề cao, không
còn ham những hư danh ngoài đời, không còn thích được người ta gọi mình bằng những
danh này hiệu nọ, và cũng không còn ham hố quyền bính nữa. Ngài khuyên những
người theo Ngài: «Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “rápbi”» (Mt 23,8a).
Khi ta sống một cuộc đời thánh thiện, được mọi người cảm phục,
thì một cách tự phát, họ muốn biểu lộ sự kính trọng cảm phục ấy với ta bằng
cách gọi ta là «rápbi». Ngay cả trong
trường hợp này, Ngài cũng khuyên ta đừng để họ gọi mình như vậy. Nghĩa
là Ngài muốn ta chủ động khuyên họ đừng gọi mình như thế. Lý do: «Vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em
đều là anh em với nhau» (Mt 23,8b). Ngài muốn người theo Ngài, dù có cao cả
đến đâu, cũng tự hạ mình xuống ngang với mọi người, coi mọi người là anh chị em
ngang hàng với mình. Có thế ta mới tôn trọng họ, lắng nghe họ, không muốn áp đặt
họ phải nghe mình, phải làm theo ý mình. Nếu họ có nghe lời mình thì là vì họ
nhận ra lẽ phải ở nơi mình, và họ làm theo lẽ phải ấy chứ không phải làm theo ý
mình vì nể nang hay vì sợ mình phật lòng. Ý tưởng này được Đức Giêsu nói rất rõ
trong câu: «Anh em cũng đừng để ai gọi
mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô» (Mt
23,10). Làm sao để họ quan tâm nghe theo ý muốn của Thiên Chúa, người lãnh đạo
của họ và của ta, được tỏ lộ trong lương tâm họ, chứ không phải nghe theo ý muốn
của ta. Làm sao để mọi người nhận ra không
phải ta lãnh đạo, mà là Đức Kitô lãnh đạo nơi con người ta. Phải có tinh thần
như Gioan Tẩy Giả: «Người phải nổi bật
lên, còn tôi phải lu mờ đi» (Ga 3,30); và ý riêng của ta cũng phải lu mờ đi
để thánh ý của Ngài được nổi bật lên.
Khuynh hướng từ bỏ «cái
tôi» ấy không chỉ cần áp dụng trong Giáo Hội, giáo xứ, giữa giáo sĩ với
giáo dân, mà trong tất cả mọi đoàn thể, tập thể, gia đình, giữa giáo dân với
giáo dân, giữa người lãnh đạo với tập thể mình lãnh đạo. Phải làm sao để người
ta thấy chính Đức Kitô đang lãnh đạo gia đình, tập thể, cộng đoàn… chứ không phải
ta lãnh đạo. Cần ý thức rằng bản thân ta và ý của ta không là gì cả, mà Đức
Kitô và thánh ý của Ngài mới là quan trọng. Hãy coi chừng, nếu không có ý thức
phản tỉnh cao, thì khi điều hành cộng đoàn, rất nhiều trường hợp ta đặt bản
thân ta cao hơn cả Thiên Chúa, và coi ý riêng của ta quan trọng hơn thánh ý
Ngài. Mà thánh ý Ngài, trong rất nhiều trường hợp, được biểu lộ qua ý kiến hay
ý muốn của đa số trong cộng đoàn: «Ý dân
là ý Trời» (Vox populi, vox Dei). Nhưng nhiều khi ta lại ỷ vào quyền lãnh đạo
của mình phủ nhận mọi ý kiến của người khác, để áp đặt ý riêng của ta lên ý của
Thiên Chúa hay ý của đa số. Tất cả chỉ vì ta đã coi «cái tôi» của mình quá quan trọng, nghĩa là ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình» như Đức Giêsu đòi hỏi
những người theo Ngài.
3.Một nghịch lý rất thực
tế
Trong đời sống tâm linh, nếu ta hồi tâm suy nghĩ, ta thấy
ngay chân lý này: ta càng quan trọng hóa «cái
tôi» của mình thì tâm linh ta càng trống rỗng Thiên Chúa, trống rỗng sức mạnh
và tình yêu của Ngài. Giữa «cái tôi»
của ta và sự sống của Thiên Chúa trong ta luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Cái
này càng lớn lên thì tất nhiên cái kia càng nhỏ đi, và ngược lại. Nếu sự sống của
Thiên Chúa trong ta quá ít do «cái tôi»
của ta quá lớn, thì cách hành xử của ta sẽ trở nên y hệt như cách hành xử của
các kinh sư và Pharisêu xưa. Ta sẽ là bản sao rất trung thành của họ, cho dù ta
có dáng vẻ bên ngoài thánh thiện hay đạo mạo tới đâu, cho dù chức vụ trong tôn
giáo của ta có cao vời tới đâu. Tất cả những gì tốt đẹp mà người ta thấy nơi ta
chỉ hoàn toàn là bên ngoài, rỗng tuếch chiều sâu bên trong. Lúc đó ta cần lắng
nghe lời cảnh báo của ngôn sứ Malakia trong bài đọc 1: «Hỡi các tư tế, nếu các ngươi không nghe và không lưu tâm tôn vinh Danh
Ta, các ngươi đã đi trệch đường và làm cho nhiều người lảo đảo trên đường Luật
dạy. Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì
các ngươi không tuân giữ đường lối Ta» (Ml 1,14b–2,2b.8-9). Lúc đó, lời của
Đức Giêsu sẽ được ứng nghiệm: «Ai tôn
mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt
23,12).
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, điều kiện để theo Đức Giêsu là
«phải từ bỏ chính mình, vác thập
giá mình mà theo» (Mt 16,24). Nhưng trong thực tế đời sống con, con vừa
muốn theo Ngài, lại vừa muốn giữ «cái tôi»
của con thật lớn, vừa muốn được hưởng thụ mọi ưu đãi của trần gian. Như thế con
có còn là môn đệ đích thực của Ngài nữa không? Xin Cha giúp con thành thật và
can đảm nhận ra sự thật nơi con, để con cải thiện thành môn đệ đích thực của
Đức Giêsu, Con Cha.
Nguyễn
Chính Kết
CHIA SẺ 2
1. Tật xấu chung của con người: muốn được mọi người nể phục tôn
trọng, muốn được hơn người khác
Đọc bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy ngay
hai phần rõ rệt diễn tả hai tinh thần đối chọi nhau. Phần đầu nói lên tinh thần
«phình to bản ngã» của người
Pharisêu, thích đặt nặng «cái tôi»,
đưa «cái tôi» của mình lên trên «cái tôi» của người khác. Còn phần sau là
tinh thần «tự hủy» của Đức Giêsu, là
tinh thần từ bỏ mình, quên mình, xả kỷ, đặt «cái tôi» của mình dưới «cái
tôi» của kẻ khác.
Tinh thần «phình to bản ngã» không chỉ là tâm lý của những người Pharisêu, mà
còn là tâm lý của đại đa số nhân loại chúng ta. Chúng ta thích được mọi người
nể phục, ca tụng, đề cao; thích khoe những ưu điểm, thành tích của mình; thích
có địa vị hay quyền lực trong xã hội hay Giáo Hội; thích được người khác phục
vụ, qụy lụy; ai nói đụng chạm đến mình thì tỏ ra bực bội; thấy những người
chung quanh hơn mình thì đâm ra buồn nản, ganh tức, v. v… Tâm lý như thế là tâm
lý rất bình thường, không mang tính bệnh hoạn. Nó chỉ trở thành bệnh hoạn khi
trở nên quá đáng, nghĩa là ước muốn được hơn người trở thành một nỗi ám ảnh,
hay biến ta thành một người đầy tham vọng, và muốn thỏa mãn những mong ước ấy
với bất cứ giá nào, bất chấp phải làm những điều trái lương tâm… Tình trạng
bệnh hoạn ấy sẽ khiến tâm hồn ta thường xuyên mất bình an và làm người khác khó
chịu.
Muốn nên thánh, ta phải vượt lên trên
tâm lý bình thường ấy. Nếu ta thắng vượt được tâm lý đó, thì ta đã trở nên hơn
người bình thường một bậc. Và lên được bậc này là lên được bậc căn bản nhất để
nên thánh rồi. Thật vậy, không ai có thể nên thánh nếu vẫn còn trong tình trạng
tâm lý coi «cái tôi» của mình là «cái rốn của vũ trụ», là hơn hết mọi
người, và coi ý riêng, ý kiến, quyền lợi mình cao hơn ý riêng, ý kiến, quyền
lợi người khác.
2. Coi chừng kẻo thứ
đạo đức của ta đang được xây dựng trên tâm lý muốn «phình to bản ngã»
Khi ta tự đặt ta cao hơn người khác hoặc
những gì của ta cao hơn của người khác thì ta cũng mong muốn, thậm chí đòi hỏi
người khác phải coi ta hơn bản thân họ, hoặc những gì của ta hơn của họ. Một
người luôn đặt nặng «cái tôi» của
mình như thế vẫn có thể được mọi người coi là đạo đức, thậm chí là «đạo cao đức cả», nhờ tuân giữ chi tiết
và hoàn hảo các luật lệ tôn giáo, hoặc làm được những việc phúc đức lớn lao như
những người Pharisêu thời Đức Giêsu. Họ sẵn sàng tuân giữ mọi quy luật tôn
giáo, làm những hành động tốt, không phải vì mến Chúa yêu người, mà vì muốn
được mọi người chung quanh nể phục, ca tụng, coi mình là người đạo đức, và nhờ
đó, tín nhiệm mình, tôn mình lên những địa vị cao trong xã hội hay Giáo Hội.
`Nhưng trước con mắt Thiên Chúa, tinh
thần «phình to bản ngã» ấy làm hỏng
tất cả những gì có vẻ tốt đẹp của họ.
Tinh thần ấy đã biến những hành vi đạo đức như đọc kinh cầu nguyện, làm phúc bố
thí, có vẻ yêu thương… thành những
hành vi vị kỷ. Vì những hành vi ấy không xuất phát từ động lực yêu thương.
Trước mặt Thiên Chúa, giá trị đạo đức của một hành động phần rất lớn hệ tại
động lực thúc đẩy: càng vị tha, càng vì yêu thương thì càng có giá trị, còn càng
vị kỷ thì càng giảm giá trị. Điều này thánh Phaolô nói rất rõ: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà
bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng
ích gì cho tôi» (1Cr 13,3). Những hành vi ấy, cho dù vĩ đại, có vẻ
đầy tình thương, hay đem lại lợi ích cho rất nhiều người khác, nhưng vì không
được thúc đẩy bởi động lực yêu thương, nên chẳng có giá trị trước Thiên Chúa,
và chẳng đem lại lợi ích tâm linh cho ta. Khi làm vì ta, thì ta đã đạt được
những lợi ích trần thế, nghĩa là «đã được
phần thưởng rồi» (Mt 6,5b).
Chính trong viễn ảnh này mà câu Kinh
Thánh sau đây trở nên dễ hiểu: «Trong
ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng
tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ,
nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với
họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian
ác!» (Mt 7,22-23). Việc nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ, tự bản chất đều
là những việc đạo đức, nhưng nếu làm với động lực vị kỷ chứ không phải vì yêu
thương, thì chẳng có giá trị gì về tâm linh. Nếu dựa vào những việc đạo đức kém
giá trị ấy để lên mặt tự hào và khinh khi người khác, thì những việc ấy lại trở
thành tội ác! Vì thế, muốn nên thánh, ta cần phải thường xuyên thanh luyện động
lực khi làm những điều thiện, những việc đạo đức.
3.Sự thánh thiện đích
thực được xây dựng trên nền tảng tự hủy, quên mình, xả kỷ, yêu thương
Thứ đạo đức của người Pharisêu được xây
dựng trên nền tảng «phình to bản ngã»,
nên đó là thứ đạo đức giả, có thể được người đời lầm tưởng mà đánh giá cao,
nhưng trước mặt Thiên Chúa chẳng có giá trị gì. Đức Giêsu muốn chúng ta, những
kẻ theo Ngài, là những người đạo đức thật sự. Nghĩa là đạo đức của ta phải được
xây dựng trên nền tảng tự hủy và yêu thương. Ngài khuyên chúng ta đừng ham được
mọi người gọi mình là «rápbi», là «cha», là «thầy», là «người lãnh đạo»…
nghĩa là đừng ham được mọi người nể phục, kính trọng, đề cao, đừng khao khát
quyền lực, địa vị… Hãy tự coi mình là một số không, chẳng có gì đáng tự hào,
đáng cậy công… Vì xét cho cùng, ta chẳng có một điều gì có giá trị do tự ta làm
ra cả. Tất cả những gì có giá trị nơi ta đều đến từ Thiên Chúa. Thánh Phaolô
nói: «Bạn có gì mà bạn đã không nhận
lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?»
(1Cr 4,7).
Khi ta tự hào với người khác về đạo đức,
tài năng, lòng can đảm… thì điều ấy giả thiết rằng ta đã tự coi những thứ tốt
đẹp ấy là do ta chứ không phải do ai khác. Thế là ta đã trở thành kẻ vô ơn đối
với Thiên Chúa, vì không gì ta có mà không phải do Ngài ban. Gioan Tẩy giả nói
với những người Pharisêu: «Đừng tự hào
rằng : "Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham." Vì, tôi nói cho các anh hay,
Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham»
(Mt 3,9). Cũng vậy, Thiên Chúa có thể biến những kẻ vô dụng, hèn kém nhất trong
thế gian này, những kẻ mà ta đang khi rẻ thành những kẻ đạo đức và tài năng hơn
ta. Và Ngài cũng có thể giảm các ân huệ Ngài vẫn ban cho ta, lập tức lúc đó ta
trở thành kẻ không ra gì. Biết bao người đang được mọi người coi là cao cả mà
chỉ vì bị mất ơn Chúa đã trở thành kẻ tầm thường! Như vậy, người hiểu biết và
khôn ngoan đích thực sẽ không bao giờ dám tự hào về mình điều gì. Thánh Phaolô
khuyên: «Ai tự hào thì hãy tự hào trong
Chúa» (1Cr 1,31; x. 2Cr 10,17).
Một người đạo đức thật sự sẽ không «làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy»
(Mt 23,5), «cốt để người ta khen» (Mt
6,2) như những người Pharisêu, mà trái lại sẽ làm theo lời khuyên của Đức
Giêsu: «Khi bố thí, đừng cho tay trái
biết việc tay phải làm» (Mt 6,3); «khi
cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng
hiện diện nơi kín đáo» (6,6). Những việc tốt đẹp ấy nếu ta không làm vì ta,
để vinh danh ta, mà làm vì yêu thương, vì ích lợi của tha nhân, thì dù nhỏ mọn,
chúng vẫn có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa. Còn nếu làm vì ta, để được
khen, được nể phục, thì việc ấy dù có lớn lao đến đâu, cũng trở nên vô giá trị
trước Thiên Chúa, bất chấp chúng được người đời ca tụng thế nào. Vậy chính tinh
thần tự hủy, quên mình, xả kỷ, vị tha khi hành động mới làm cho hành động của
ta có giá trị, và giúp ta nên thánh thật sự.
CẦu nguyỆn
Tôi nghe Thiên
Chúa nói với tôi: «Cha dựng nên con từ hư
vô, và dựng nên người khác cũng từ hư vô. Tự bản chất và tự bản thân con, con
chẳng hơn người khác một chút nào. Ngược lại người khác cũng chẳng hơn con chút
nào. Con có hơn người khác được điều gì, thì do chính Cha đã ban đủ ơn để con
hơn được như vậy. Thế thì con có lý do gì để lên mặt với những kẻ thua kém con?
Rất có thể một lúc nào đó, Cha sẽ lại cho những kẻ kém con, những kẻ con khinh
thường ấy hơn con. Tốt hơn là con hãy quên con đi, đừng tự coi mình là gì cả.
Chính thái độ ấy làm cho con trở nên cao cả trước mặt Cha, làm đời sống con
hạnh phúc và tốt đẹp biết bao! Cha mong con có thái độ ấy».(JK)

No comments:
Post a Comment